Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh – Wikipedia tiếng Việt

S House homestay Nha Trang 
Một buổi màn biểu diễn tại tiền sảnh Giao hàng công chúng

Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh (thường được gọi ngắn gọn là Nhà hát Thành phố hoặc Nhà hát Lớn) là một nhà hát có mặt tiền hướng ra Công trường Lam Sơn và đường Đồng Khởi, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Nằm ở một vị trí thuận lợi tại trung tâm thành phố, nhà hát được xem là nhà hát trung tâm, đa năng chuyên tổ chức biểu diễn sân khấu nghệ thuật đồng thời cũng được sử dụng để tổ chức một số sự kiện lớn. Đây cũng là nhà hát thuộc loại lâu đời theo kiến trúc Tây Âu và được xem như một địa điểm tham quan của thành phố này.

Nhà hát vào năm 1905

Sau khi chiếm được Nam Kỳ, năm 1863, chính quyền Pháp đã mời một đoàn hát sang biểu diễn tại Sài Gòn để giải trí cho lính viễn chinh Pháp. Lúc đầu, đoàn biểu diễn tạm tại nhà gỗ của dinh Thủy sư đề đốc tại Công trường Đồng Hồ (Place de l’Horloge) (góc Nguyễn Du – Đồng Khởi hiện nay). Sau đó, một nhà hát tạm được lập ở vị trí Khách sạn Caravelle ngày nay. Năm 1898, Nhà hát lớn được khởi công ngay cạnh nhà hát cũ và đến ngày 1 tháng 1 năm 1900 thì khánh thành.

Giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, việc đem gánh hát từ Pháp sang đây biểu diễn hoàn toàn do sự trợ cấp của chính quyền thành phố. Tuy có dự định nơi đây sẽ trở thành một khu trung tâm giải trí dành riêng cho những nhân vật sang trọng, nhưng Nhà hát Tây càng ngày càng mất khách, vì các tay ăn chơi bị các hộp đêm, các quán ăn có nhạc và khiêu vũ giúp vui thu hút hầu hết… Sau thời gian đầu hoạt động sôi nổi, nhà hát chỉ còn sinh hoạt cầm chừng với các buổi ca hát, hòa nhạc và cải lương. Do có nhiều chỉ trích về kiến trúc rườm rà và chi phí tổ chức tốn kém, nên chính quyền thành phố đã từng có ý định chuyển nhà hát thành nơi hòa nhạc (Salle de Concert). Tuy nhiên, ý định này đã không được thực hiện. Thay vào đó, năm 1943 phần trang trí, điêu khắc ở mặt tiền nhà hát bị xóa bỏ (tượng nữ thần nghệ thuật, các dây hoa, hai cây đèn…) nhằm trẻ trung hóa phong cách kiến trúc. Tuy nhiên, vào năm 1944, nhà hát bị phi cơ Đồng Minh oanh tạc, làm hư hại hại nặng, phải ngưng hoạt động.

Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, do thực trạng cuộc chiến tranh, nhà hát không được trùng tu nhiều. Năm 1954, nơi đây được sử dụng làm nơi ở tạm trú cho những thường dân Pháp từ miền Bắc di cư vào Nam theo Hiệp định Genève năm 1954. Năm 1955, nhà hát được trùng tu tái tạo nhưng lại được sử dụng với tính năng tòa Trụ sở Quốc hội ( sau gọi là nhà Hạ nghị viện ) của chính quyền sở tại Nước Ta Cộng hòa .Sau năm 1975, Nhà hát được trả lại tính năng khởi đầu là tổ chức triển khai biểu diện thẩm mỹ và nghệ thuật. Năm 1998, nhân ngày 300 năm khai sinh Thành phố Hồ Chí Minh, Chính quyền thành phố đã cho trùng tu lớn với mục tiêu bảo tồn phong thái kiến trúc khởi đầu, với 1 số ít trang trí, điêu khắc nổi ở mặt tiền nhà hát như tượng nữ thần thẩm mỹ và nghệ thuật, những dây hoa … được phục chế .Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã phê chuẩn một dự án Bất Động Sản tân trang nhà hát vào tháng 11 năm 2007, kinh phí đầu tư trù liệu là 1,6 tỷ đồng. Trong chương trình này, những bộ phận kiến trúc trùng tu dược liệt kê như sau :

  • Mái ngói với những vật liệu chế tạo đúng theo khuôn mẫu của thời đó (1900).
  • Thay ghế ngồi bằng ghế đệm (giảm số ghế từ 559 xuống 500 chỗ ngồi).
  • Thay gạch lát nền.
  • Trùng tu các tượng phía trong nhà hát.
  • Trùng tu các điêu khắc nổi trên tường và các tượng theo đúng mẫu ban đầu.

Dự án hoàn tất cuối năm 2009. Công ty tổ chức triển khai những buổi trình diễn văn nghệ đã nhận 160.000 € trợ cấp của Thành phố Lyon ( Pháp ) để trang bị mạng lưới hệ thống chiếu sáng mỹ thuật về đêm. [ 1 ]

Nhà hát lớn Sài Gòn là một đối trọng về mặt kiến trúc với Nhà hát Lớn Hà Nội (cất năm 1911, kiến trúc theo mẫu Opéra Garnier tại Paris, 900 chỗ ngồi, kiến trúc sư Broger et Harloy). Nhà hát Sài Gòn giữ riêng nét đặc thù có một không hai. Tác giả của tòa kiến trúc này là các kiến trúc sư Félix Olivier, Ernest Guichard và Eugène Ferret xây dựng năm 1900 theo lối kiến trúc “flamboyant” của thời Đệ tam cộng hòa Pháp[2]. Cửa mặt tiền chịu ảnh hưởng nghệ thuật khá rõ nét của Petit Palais cất cùng năm tại Pháp. Thiết kế bên trong tân tiến với đầy đủ thiết bị cho âm thanh và ánh sáng. Ngoài tầng trệt còn 2 tầng lầu tổng cộng 1800 chỗ ngồi. Toàn bộ các mẫu trang trí, phù điêu mặt tiền và nội thất đều được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ 19 và gửi từ Pháp qua.

Tuy vậy, về phần trang trí ở mặt tiền nhà hát cũng có nhiều lời chỉ trích. Theo phong cách Đế quốc (sau được trang trí thêm theo phong cách Beaux Arts, rồi giản tiện hóa kiểu Art Deco), mặt tiền nhà hát được trang trí nhiều phù điêu và tượng đắp nổi (giống như Tòa thị chính), nên bị chỉ trích là khá rườm rà và rối rắm. Vì vậy vào năm 1943, một số chi tiết trang trí này đã bị dỡ bỏ nhằm trẻ trung hóa phong cách kiến trúc. Vào năm 1998, nhân dịp kỷ niêm 300 thành lập Thành phố Hồ Chí Minh, chính quyền đương thời phục hồi chức năng cũ là nhà hát thành phố cũng như đã cho phục hồi một số trang trí như tượng 2 nữ thần nghệ thuật, các dây hoa, hai cây đèn… trong đợt cải tạo và nâng cấp nhà hát. Tổng kinh phí trùng tu phục chế vào khoảng 25 tỷ đồng thời giá bấy giờ.

Những chuyện tương quan đến Vườn hoa Nhà hát[sửa|sửa mã nguồn]

Tượng đài Thủy quân lục chiếnNguyên thủy, vườn hoa trước Nhà hát không có tượng đài. Năm 1967, chính quyền sở tại Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam đã cho kiến thiết xây dựng tượng đài Thủy quân lục chiến cao 9 mét, trong tư thế xung phong hướng vào trụ sở Hạ viện. Dư luận đương thời cho đó là một điềm gở khi quân đội ” chĩa súng ” vào Quốc hội .
Ngày 25 tháng 7 năm 1970, hai người Pháp phản chiến là André Marcel Menras và Jean Pierre Debris đã trèo lên tượng để phất cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam Nước Ta và rải truyền đơn lôi kéo phản chiến. Cả hai đều bị chính quyền sở tại Hồ Chí Minh bắt giam và bị Tòa án binh TP HCM kết tội ” phá rối trị an ” với mức án bốn năm tù giam so với Jean Pierre Debris và ba năm tù giam cho André Marcel Menras. Cả hai bị giam ở khám Chí Hòa và được những người tù Cộng sản đặt tên Việt là Hồ Cương Quyết ( André Marcel Menras ) và Hồ Tất Thắng ( Jean Pierre Debris ). Sau đó cả hai đều bị đày ra Côn Đảo mãi đến đến cuối năm 1972 thì được trả tự do và trục xuất về Pháp. Khi ra tù, hai ông đã xuất bản chung một quyển sách có tựa đề ” Thoát khỏi ngục tù Hồ Chí Minh, chúng tôi vạch tội “, tố cáo chính sách lao tù khắc nghiệt của chính sách Hồ Chí Minh .Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tượng đài bị giật đổ. Khu vườn hoa trở lại như bắt đầu, tuy vẫn còn sống sót cái bệ tượng cũ. Mãi đến tháng 12 năm 1997, nhân kỷ niệm 300 năm Hồ Chí Minh – Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng Thành phố đã quyết định hành động cho xây một đài phun nước và một tượng đài bằng đá hoa cương đỏ, kích cỡ 2,6 mét, bệ tượng bằng granit đen viền đỏ, cao 2,40 mét, có tên là ” Tình mẫu tử ” . Tượng đài ” Tình mẫu tử “

Tác giả của bức tượng là ông Nguyễn Quốc Thắng – nguyên Phó giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, thuyết minh về tác phẩm như sau: “bố cục theo hình khối tròn, hình ảnh hai mẹ con trìu mến, người mẹ bao giờ cũng che chở cho con…”. Tuy nhiên, giữa năm 2005, trong một bài phóng sự điều tra, báo Lao động đã đặt nghi vấn về bản quyền khi dẫn chứng của bức tượng “Tình mẫu tử” của bà Dương Lệ Vân, hội viên Uỷ ban Điêu khắc – Hiệp hội Mỹ thuật công nghệ Trung Quốc, được đăng trong đặc san điêu khắc do Hiệp hội Mỹ thuật – công nghệ Trung Quốc xuất bản tháng 8 năm 1995.

Hiện nay, Vườn hoa trước Nhà hát Lớn đã được dỡ bỏ để thiết kế xây dựng khu công trình metro tiên phong của Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như của toàn Nước Ta .

  • Tỉnh thành xưa Việt Nam

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Source: https://lesgo.me
Category: Sài Gòn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.