Seattle – Wikipedia tiếng Việt

S House homestay Nha Trang 

Seattle (phát âm /siːˈæɾ(ə)l/ (Speaker Icon.svg phát), us dict: sē•ăt′•əl) là một thành phố cảng biển tọa lạc ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Thành phố này nằm ở phía tây tiểu bang Washington trên một dải đất giữa Vịnh Puget (một nhánh nhỏ của Thái Bình Dương) và hồ Washington, khoảng cách khoảng 160 km về phía nam biên giới Canada – Hoa Kỳ. Thành phố được đặt tên theo tù trưởng Seattle, thuộc các bộ lạc Duwamish và Suquamish. Seattle là trung tâm của vùng đô thị Seattle–Tacoma–Bellevue lớn thứ 15 ở Hoa Kỳ và lớn thứ nhất ở Tây Bắc Thái Bình Dương.[5] Là một trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của khu vực, Seattle là thủ phủ của Quận King. Theo cuộc điều tra dân số vào tháng 4 năm 2009, Seattle có dân số khoảng 617.000 người, còn vùng đô thị là 4.158.000 người. Cảng Seattle và Sân bay quốc tế Seattle-Tacoma là cửa ngõ chính đi tới Châu Á, Alaska và các nơi khác trên thế giới.

Những người địa phương đã định cư tại Seattle tối thiểu 4000 năm, [ 6 ] nhưng khu định cư người châu Âu chỉ mở màn vào giữa thế kỷ 19. Những người định cư châu Âu lâu dài tiên phong — Arthur A. Denny và những người tiếp theo được gọi là bọn Denny — đã đến đây vào ngày 13 tháng 11 năm 1851. Năm 1853, David Swinson Maynard đã yêu cầu tên gọi khu định cư chính được đổi thành ” Seattle “, một tên gọi Anh hóa của tên Sealth, tù trưởng của hai bộ lạc địa phương. Kể từ đó, thành phố có tên gọi là Seattle. Từ năm 1869 cho đến năm 1882, Seattle đã có biệt danh ” Queen City “. [ 7 ]Seattle nổi tiếng với việc tiêu thụ nhiều cafe ; [ 8 ] những công ty cafe được xây dựng hoặc đóng trụ sở ở Seattle có Starbucks, [ 9 ] Seattle’s Best Coffee, [ 10 ] và Tully’s. [ 11 ] Các nhà nghiên cứu tại Trường Đại học Central Connecticut đã xếp hạng Seattle là thành phố tri thức nhất Hoa Kỳ trong 69 thành phố lớn nhất châu Mỹ trong năm 2005 và 2006, xếp thứ nhì trong năm 2007 ( sau Minneapolis, Minnesota ), và hòa với Minneapolis vào năm 2008. Ngoài ra, số liệu tìm hiểu từ Cục tìm hiểu dân số Hoa Kỳ cho thấy Seattle là thành phố có giáo dục cao nhất Hoa Kỳ, với 52,5 % dân số từ tuổi 25 trở lên có bằng cử nhân hoặc cao hơn. [ 12 ] Seattle là nơi sinh của lịch sử một thời nhạc rock Jimi Hendrix và phong thái nhạc gọi là ” grunge ” [ 13 ] trứ danh bởi những ban nhạc Nirvana, Alice in Chains, Pearl Jam, và Soundgarden. Bruce Lee và người con trai của ông, Brandon Lee được an táng ở khu nghĩa trang Lakeview .

Xét về thu nhập bình quân đầu người, một nghiên cứu của Cục phân tích kinh tế Mĩ xếp hạng vùng đô thị Seattle đứng thứ 17 trong 363 khu vực đô thị trong năm 2006.[14] Seattle từ một vùng kinh tế lạc hậu, nay đã phát triển mạnh mẽ về trung tâm công nghệ thông tin, hàng không, kiến trúc và các ngành công nghiệp giải trí. Thành phố được biết đến như một trung tâm của những người yêu công nghệ “xanh”.[15]

Các tuyến đường sắt và xe điện thô sơ (street car) đã từng thống trị hệ thống giao thông nhưng đã bị thay thế phần lớn bằng một hệ thống xe buýt dày đặc và sự phát triện nhanh chóng đã khiến cho xe hơi trở thành phương tiện chính của người dân từ giữa đến cuối thế kỉ XX. Chính vì vậy, Seattle đã trở thành một trong những thành phố có nạn ùn tắc giao thông nhiều nhất nước Mĩ. Mặc dù vậy, những nỗ lực để thay đổi vấn nạn này tại các khu vực và các cơ quan chức năng đã dẫn đến dịch vụ đường sắt mới nối Seattle đến Everett và Tahoma, liên kết khu vực Light Rail về phía Nam từ khu Trung tâm và khu nội thành South Lake Union bằng tuyến đường sắt South Lake Union. Một tuyến đường mở rộng ở phía Nam đi tới Sân bay Quốc tế Seattle-Tahoma bắt đầu được đưa vào sử dụng từ ngày 19 tháng 12 năm 2009; tuyến đường mở rộng ở phía Bắc thì đi đến Đại học Washington được xây dựng vào năm 2010; và một vài mở rộng xa hơn như kế hoạch đi đến Lynnwood ở phía Bắc, Des Moines ở phía Nam, và Bellevue và Redmond ở phía Đông vào năm 2023.[16]

Khai quật khảo cổ xác nhận rằng khu vực Seattle đã có con người sinh sống cách đây tối thiểu 4.000 năm. Trước khi những người châu Âu tiên phong đến khu vực này, người dân địa phương ( nay gọi là tộc Duwamish ) đã chiếm 17 làng quanh khu vực Vịnh Elliott. [ 17 ] [ 18 ] [ 19 ]Người châu Âu tiên phong đặt chân đến khu vực Seattle là George Vancouver vào tháng 5 năm 1792 trong chuyến thám hiểm để lập biểu đồ Tây Bắc Thái Bình Dương ( 1791 – 1795 ). [ 20 ] Năm 1851, một đoàn người đông đúc do Luther Collins đặt chân đến cửa sông Duwamish, họ đã công bố chủ quyền lãnh thổ vùng đất này vào ngày 14 tháng 9 năm 1851. [ 21 ] Mười ba ngày sau đó, những thành viên của nhóm người Collins trên đường đi dành chủ quyền lãnh thổ đã đi ngang qua ba trinh sát viên của nhóm Denny. [ 22 ] Các thành viên của nhóm Denny công bố chủ quyền lãnh thổ vùng đất Aiki Point vào ngày 28 tháng 9 năm 1851. [ 23 ] Số người còn lại của nhóm Denny đi buồm từ Portland, Oregon và đến được Aiki Point trong một cơn mưa và bão ngày 13 tháng 11 năm 1851. [ 23 ]

Sau một mùa đông khó khăn, hầu hết các thành viên nhóm Denny di chuyển qua Vịnh Elliott và thành lập làng “Dewamps” hoặc “Duwamps” trên vùng đất mà ngày nay Pioneer Square.[23] Charles Terry và John Low ở lại vị trí ban đầu và lập một ngôi làng mang tên “New York”, nhưng lại đổi lại thành “New York Aiki” từ tháng 4 năm 1853. Chữ “Aiki” trong tiếng Chinook có nghĩa là lát nữa thôi, ngay bên cạnh hoặc một người nào đó.[24] New York Alki và Duwamps cạnh tranh cho sự thống trị trong một vài năm tới, nhưng sau đó Aiki bị bỏ rơi và người dân chuyển sang sinh sống ở bên kia vịnh.[25]

David Swinson ( ” Doc ” ) Maynard, một trong những người sáng lập Duwamps, là người yêu cầu tên gọi làng là ” Seattle ” từ tên của tù trưởng của hai bộ lạc Duwamish và Suquamish, Sealth. [ 26 ] [ 27 ] [ 28 ] Thuật ngữ ” Seattle “, Open trên chính thức trên chủ quyền lãnh thổ Washington ngày 23 Tháng Năm 1853. Năm 1855, khu định cư được xây dựng. Ngày 14 tháng 1 năm 1865, Lập pháp của Washington hợp nhất thị xã Seattle với một ủy ban quản trị thành phố. Hai năm sau, sau khi đơn xin đã được nộp bởi hầu hết những công dân số 1, lập pháp đã giải tán trị trấn. Năm 1867, một linh mục Công giáo người Canada gốc Pháp tên là Francis X. Prefontaine đến Seattle và quyết định hành động xây dựng một giáo xứ ở đó. Trong thời hạn 1868 – 1869, ông đã góp tiền thiết kế xây dựng nhà thời thánh bằng cách nâng cao tiền tại hội chợ, triển lãm ở khu vực Vịnh Puget và cho ra nhiều khu công trình, vào năm 1869, ông Open nhà thời thánh Công giáo tiên phong tại Seattle trên Đại lộ thứ ba và đường Washington, Thị trấn vẫn còn một khuôn viên của Quận King cho đến cuối năm 1869 khi một đơn nhu yếu mới đã được đệ lên và thành phố đã được tái hợp với một chính quyền sở tại thị trưởng-hội đồng. [ 23 ] [ 29 ] Các con dấu chính thức của thành phố Seattle mang năm ” 1869 ” .

Cuộc đi tìm vàng, Thế chiến thứ I và Đại Khủng hoảng[sửa|sửa mã nguồn]

Một tờ báo loan tin cuộc Tổng đình công ở Seattle 1919Kể từ khi tìm ra vàng ở dọc sông Klondike gần cuối thế kỉ XIX, mọi người đổ xô đến để đào vàng. Kể từ đó, Seattle đã trở thành một trung tậm luân chuyển lớn. Ngày 14 tháng 7 năm 1897, những tàu SS Portland chứa hàng tấn vàng cập cảng Seattle, và Seattle đã trở thành mốc giao thông vận tải chính và cung ứng hàng hoá cho những thợ mỏ ở Alaska và Yukon. Cùng với Seattle, những thành phố khác như Everett, Tacoma, Port Townsend, Bremerton, và Olympia, toàn bộ trong khu vực Vịnh Puget, trở thành đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu để trao đổi, chứ không phải chỉ mình Seattle là TT chính khai thác những sắt kẽm kim loại quý. Cuộc đổ xô đi tìm vàng ở Yukon kết thúc vào năm 1909, và năm đó thành phố cũng đã đăng cai tổ chức triển khai Triển lãm quốc tế .Một sự bùng nổ đóng tàu có quy mô lớn ở phần đầu của thế kỷ 20 làm cho những hãng đóng tàu tăng thêm nhân công nhưng lại trả lương rất rất ít, những công nhân đã hàng loạt đình công để đạt được mức lương cao hơn sau hai năm Thế chiến thứ I trấn áp tiền lương, đã tạo nên cuộc Tổng đình công ở Seattle năm 1919, là cuộc tổng đình công tiên phong trong nước. Một kế hoạch tăng trưởng thành phố vào năm 1912 do Virgil Bogue đề xướng nhưng không được sử dụng. Nền kinh tế tài chính của Seattle tăng trưởng thịnh vượng vào những năm 1920 nhưng lại bị suy thoái và khủng hoảng do ảnh hưởng tác động của Đại Khủng hoảng, và đã phải trải qua nhiều cuộc xung đột lao động nghiêm trọng nhất của quốc gia trong thời kỳ đó. Những cuộc xung đột trong thời hạn diễn ra cuộc Đình công bờ biển phía Tây năm 1934 đã khiến cho Seattle phải trả ngân sách rất lớn nếu muốn đi đến cảng Los Angeles bằng tàu. [ 30 ]Seattle cũng là trụ sở của ông trùm sân khấu kịch hài Alexander Pantages, người mà đã mở hàng loạt những sân khấu dành cho kịch hài, kịch câm tại Seattle. Những nhà hát của ông luôn được lan rộng ra, và từ một người Mỹ gốc Hy Lạp nghèo túng, ông đã trở thành một trong những ông bầu xuất sắc nhất nước Mĩ và mau chóng trở thành ông trùm màn bạc. Seattle được cho là nơi mê hoặc hành khách ở miền Tây Hoa Kỳ nhờ vào những tạp kỹ ( biểu diễn ca, nhạc, múa, xiếc … ). Thành công của Pantages một phần là do công của Kỹ sư – Kiến trúc sư người Scotland B. Marcus Priteca. Priteca đã xây những nhà hát hoàn toàn có thể phá huỷ hoặc thuận tiện vận động và di chuyển từ nơi này sang nơi khác cho nhiều mục tiêu khác nhau. Liên doanh Pantages-Priteca có độ tác động ảnh hưởng rất lớn so với công chúng Mĩ thời đó. Tuy nhiên, những nhà hát của Pantages-Priteca còn sót lại trên 1 số ít thành phố của Hoa Kỳ chỉ còn một cái tên là Pantages .

Những năm sau cuộc chiến tranh : Hàng không và điện tử[sửa|sửa mã nguồn]

Trung tâm SeattleNền kinh tế tài chính khu vực xuống dốc sau khi Chiến tranh quốc tế thứ hai kết thúc, đồng nghĩa tương quan với việc làn sóng nhập cư từ Nhật Bản đến Seattle. Nền kinh tế tài chính được phục sinh trở lại nhờ sự thống trị ngày càng tăng trong thị trường máy bay chở khách của công ty sản xuất máy bay Boeing. [ 31 ] Seattle tổ chức triển khai lễ ăn mừng cho sự phục sinh thịnh vượng của nó và tổ chức triển khai Triển lãm thế kỉ 21 và Hội chợ quốc tế 1962. [ 32 ] Nhưng kinh tế tài chính địa phương đã đi vào một thực trạng suy thoái và khủng hoảng lớn trong cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Nhiều người rời khỏi khu vực để tìm việc làm ở nơi khác, và những công ty bất động sản lớn ở Seattle đã đăng bản thông tin ” Will the last person leaving Seattle – Turn out the lights. ” [ 33 ]Tuy nhiên, Seattle vẫn là trụ sở của Boeing cho đến năm 2001, sau đó thì chuyển sang thành phố Chicago, Illinois. [ 34 ] Tuy vậy, Seattle vẫn là nơi sản xuất những dòng máy bay gia dụng của Boeing. Có hai xí nghiệp sản xuất sản xuất đó là Boeing Renton Factory ( nơi mà 707, 720, 727, và 757 được lắp ráp, trong đó 737 vẫn còn hoạt động giải trí đến thời nay ), nhà máy sản xuất thứ hai là Boeing Everett Factory ( nơi sản xuất 747, 767, 777, và 787 ) .Khi sự thịnh vượng mở màn trở lại vào những năm 80, thành phố đã làm sửng sốt giới truyền thông online sau khi mười ba người đã thiệt mạng trong một câu lạc bộ đánh bài phạm pháp ở Quận International, Khu phố Tàu. Đây là vụ thảm sát tồi tệ nhất trong lịch sử vẻ vang của Seattle. [ 35 ] Kỷ nguyên điện tử của Seattle mở màn từ việc Microsoft dời trụ sở từ Albuquerque, New Mexico đến gần Bellevue, Washington, [ 36 ] Seattle và vùng ngoại ô trở thành quê nhà của 1 số ít công ty công nghệ tiên tiến gồm có Amazon. com, RealNetworks, T-mobile, HeartStream ( sau đó được mua lại từ Phillips ), ZymoGenetics ( được mua lại từ Eli Lilly and Company ) và Immunex ( sau đó được mua lại từ Amgen ) .Vào quá trình này, Seattle đã có sự lôi cuốn so với giới doanh nghiệp. Vì vậy, thành phố đã là trụ sở của nhiều công ty lớn. Thành phố cũng là chủ nhà của Đại hội thể thao Goodwill Games năm 1990, [ 37 ] Hội nghị APEC năm 1993. Cũng trong tiến trình này, dòng nhạc grunge ( nguồn gốc từ Seattle ) đã tăng trưởng và thông dụng rộng khắp. [ 38 ] Toàn cảnh Seattle nhìn từ Space Needle : một cái nhìn gần 360 độ gồm có ( từ trái sang ) Vịnh Puget, Queen Anne Hill, Lake Union, Capitol Hill, TT thành phố Seattle, Elliott Bay, và West Seattle .Với tổng diện tích quy hoạnh 83,9 dặm vuông, Seattle nằm ở 47,37 vĩ độ Bắc và 122,20 kinh độ Tây. Địa hình chính là đồi núi, Seattle nằm trên bảy ngọn đồi là Capitol Hill, First Hill, West Seattle, Beacon Hill, Magnolia, Denny Hill và Queen Anne. Kitsap và bán đảo Olympic cùng với những ngọn núi Olympic nằm ở phía Tây của Vịnh Puget, trong khi dãy Cascade và Lake Sammamish nằm về phía đông hồ Washington. Các khu rừng xanh tươi tốt và nhiều cơ quan nước đã cung ứng kế sinh nhai cho nhiều hội đồng hái lượm và săn bắn .
Trung tâm Seattle được bảo phủ bởi Vịnh Elliot ( phía dưới bên trái ), hạ Broadway ( từ phía trên trái đến phía trên bên phải ), Yesler Way ( phía dưới phải ) và Denny Way ( vùng bị che bởi mây )Seattle nằm giữa Vịnh Puget ( là một vịnh nhỏ, được xem là cánh tay phải của Thái Bình Dương ) về phía tây, và hồ Washington về phía đông. Cảng chính của thành phố, Elliott Bay, là lối vào của Vịnh Puget. Ở phía Tây, bên kia Vịnh Puget là bán đảo Kitsap, dãy núi Olympic trên bán đảo Olympic ; ở phía Đông, có hồ Washington, vùng ngoại ô, hồ Sammamish và dãy Cascade .Biển, sông, rừng, hồ, và những cánh đồng xung quanh Seattle đã tương hỗ cho những hoạt động giải trí xã hội. Khu vực xung quanh cũng có địa hình rất thích hợp cho việc chèo thuyền, trượt tuyết, đi xe đạp điện, cắm trại, đi bộ đường dài, … [ 39 ] [ 40 ]Thành phố năm ngay tại khu vực đồi núi, mặc dầu không được đồng đều cho lắm. [ 41 ] Giống như Roma, thành phố được cho là nằm trên bảy ngọn đồi, gồm có đồi Capitol, đồi First, West Seattle, đồi Beacon, Queen Anne, Magnolia, và Denny. Nhiều khu vực đồi núi nằm gần TT thành phố, tạo thành một sống núi dọc theo một eo đất giữa Vịnh Elliott và Hồ Washington. [ 42 ] Vết nứt trong những sóng núi giữa đồi First và đồi Beacon là tự tạo, hiệu quả của việc hai trong số nhiều dự án Bất Động Sản định hình lại TT thành phố. [ 43 ] Địa hình ở TT thành phố cũng đã được biến hóa bởi việc thiết kế xây dựng một bờ đê và hòn đảo tự tạo Harbor ( triển khai xong năm 1909 ) ở cửa công nghiệp Duwamish Waterway. Điểm cao nhất trong số lượng giới hạn thành phố nằm ở West Seattle, nằm gần Đại lộ Tây Nam thứ 35 và SW Myrtle St. Các ngọn đồi đáng chú ý quan tâm khác gồm có Crown Hill, View Ridge / Wedgwood / Bryant, Maple Leaf, Phinney Ridge, Mt. Baker Ridge, Highlands / Carkeek / Bitterlake .
Ở phía Bắc TT thành phố, kênh đào Hồ Washington liên kết Vịnh Puget với Hồ Washington. Nó hợp thành bốn phần : Hồ Union, Vịnh Salmon, Vịnh Portage, và Vịnh Union .Vì nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương, Seattle là nơi liên tục xảy ra động đất. Vào ngày 28 tháng 2 năm 2001, một cơn động đất 6,8 độ Richter đã tàn phá thành phố, đặc biệt quan trọng là ở khu vực Quảng trường Pioneer ( được thiết kế xây dựng trên đất khai hoang, là Khu công nghiệp và một phần TT thành phố ), nhưng không gây tử trận. [ 44 ] Một số địa chấn hoàn toàn có thể kể đến vào ngày 26 tháng 1 năm 1700 ( ước tính khoảng chừng 9 độ richter ), ngày 14 tháng 12 năm 1872 ( 7.3 hoặc 7.4 độ ), [ 45 ] ngày 13 tháng 4 năm 1949 ( 7.1 ), [ 46 ] and ngày 29 tháng 4 năm 1965 ( 6.5 ). [ 47 ] Cơn địa chấn vào năm 1949 đã gây ra 8 ca tử trận, tổng thể đều sống ở Seattle ; [ 46 ] còn cơn địa chấn năm 1965 đã làm ba người thiệt mạng ở Seattle, trong đó có một vụ là do lên cơn đau tim. [ 47 ] Mặc dù rãnh đứt gãy Seattle nằm về phía nam TT thành phố, không phải nó [ 48 ] cũng không phải hút chìm Cascadia đã gây nên trận động đất lúc thành phố được xây dựng. Khu vực hút chìm Cascadia đặt ra mối rình rập đe dọa vì nó hoàn toàn có thể gây nên một trận động đất 9 độ richter hoặc cao hơn, có năng lực gây tổn hại nghiêm trọng thành phố và khiến nhiều tòa nhà sụp đổ, đặc biệt quan trọng là trong khu vực được xây trên nền đất yếu. [ 49 ]Theo Cục tìm hiểu dân số Hoa Kỳ, Seattle có tổng diện tích quy hoạnh là 142,5 dặm vuông Anh ( 369 km2 ), 83,9 dặm vuông Anh ( 217 km2 ) ở đất liền và 58,7 dặm vuông Anh ( 152 km2 ) là nước ( chiếm 41 % tổng diện tích quy hoạnh thành phố ) .

Khu vực lân cận[sửa|sửa mã nguồn]

Seattle là nơi có mưa nhiều làm thành phố luôn xanh tươi, thế cho nên Seattle được gọi là ” The Emerald City “. Thành phố thường được diễn đạt là có khí hậu Ôn đới Hải dương hoặc là khí hậu Bờ biển tây Marine, một loại khí hậu đặc trưng của bờ biển phía Tây của lục địa. Ở Seattle, mùa đông thì khí ẩm còn mùa hạ thì ấm cúng. Theo mạng lưới hệ thống Phân loại khí hậu Köppen thì giống như những thành phố khác ở Tây Bắc Thái Bình Dương, Seattle nằm trong khu vực cận nhiệt đới có mùa hè khô và tương đối thoáng mát. [ 50 ] Một số những mạng lưới hệ thống phân loại khí hậu khác như Trewartha chỉ phân loại Seattle là thuộc khí hậu Ôn đới .Nhiệt độ ít khi xuống 0 độ C vào mùa đông nên ít khi có tuyết. Lượng tuyết rơi trung bình hằng năm là 33 cm ( được đo bởi Sân bay Sea-Tac ). Mưa nhiều nhất là vào tháng 1 đến tháng năm và từ tháng mười đến tháng mười hai. Mưa không lớn nhưng đa phần là mưa phùn, nhỏ và lê dài. Trong một tuần mưa hoàn toàn có thể liên tục bảy ngày, một năm chỉ được khoảng chừng 60-70 ngày nắng. Bão ít khi xảy ra ở Seattle. Thời gian khô ráo nhất trong năm là từ tháng 6 đến tháng 8 .Cũng giống như những thành phố nằm trên cùng vĩ tuyến cao phía Bắc, ngày mùa hè ở Seattle lê dài ( mặt trời chiếu sáng suốt 16 giờ vào ngày 21/6 ), ngược lại, ngày mùa đông lại ngắn và ảm đạm ( mặt trời chỉ chiếu 8,5 giờ ngày 21/12 ) .Tám mươi dặm ( 130 km ) về phía Tây là Rừng già Hoh ở Công viên Quốc gia Olympic. Nó nằm trên những sườn tây của dãy núi Olympic nhận được một lượng mưa hàng năm trung bình là 3.610 mm và thủ phủ của tiểu bang, Olympia có lượng mưa hàng năm là 1320 mm. Khí hậu vào giữa tháng Bảy đến giữa tháng Chín thường nắng và khô ráo hơn. Trong khoảng chừng thời hạn này, Seattle thường sẽ có mười, hai mươi, hoặc ba mươi ngày không có hạt mưa nào. [ 51 ] Trung bình có 20 mm mưa rơi vào tháng bảy và 25 mm trong tháng Tám. Khí hậu vào mùa hè khô hơn đáng kể và có độ ẩm thấp hơn so với ở những vùng có khí hậu lục địa ẩm. Ta hoàn toàn có thể thuận tiện nhận thấy điều đó, thường là khi nhiệt độ đạt trên 26,7 độ C. Chính thế cho nên, Seattle nhiều lúc có những cơn dông vào mùa hè. [ 52 ]

Cảng Seattle

Vùng Vịnh Puget là trung tâm kinh tế của Bang Washington và khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương. Seattle chiếm ưu thế ở vùng này, nơi có xấp xỉ 2/3 tổng số lao động của tiểu bang. Kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Seattle đã chuyển mình từ một thị trấn bình lặng chuyên về ngư nghiệp và khai thác lâm sản sang một trung tâm tiên phong về công nghệ cao. Seattle là nơi xuất phát của công ty làm chủ các quán cà phê Starbucks và những công ty cạnh tranh nhỏ hơn để thỏa mãn nhu cầu về loại cà phê dành cho giới thượng lưu.

Theo những nhà nghiên cứu và phân tích, Seattle có mức độ tăng trưởng trung bình. Bên cạnh cuộc suy thoái và khủng hoảng gần đây, nền kinh tế tài chính Seattle / Vịnh Puget đã tăng trưởng nhanh hơn nền kinh tế tài chính cả nước. Sự tăng trưởng kinh tế tài chính của Seattle cũng đã vượt xa hầu hết những thành phố ở khu Bờ biển phía Tây. Tốc độ tăng trưởng trên trung bình là xu thế trường kỳ, nó vượt qua vòng tuần hoàn kinh tế tài chính và dự kiến sẽ liên tục tăng trưởng theo như Dự kiến trong tương lai. [ 56 ]Nền kinh tế tài chính ở Seattle cũng nhờ vào vào Boeing. Gần 60 ngàn người khắp thành phố Seattle thao tác cho hãng Boeing. [ 57 ] Vào năm 2005, chỉ riêng hãng hàng không ngoài hành tinh này đã chiếm 40.6 % về việc làm trong toàn bộ những ngành công nghiệp sản xuất ở Khu đô thị Seattle. Tuy nhiên Vụ tiến công khủng bố ngày 11/9 và suy thoái và khủng hoảng kinh tế tài chính vương quốc đã kéo sự suy sụp của du lịch hàng không. Vào giữa năm 2004, hãng Boeing đã sa thải 50,800 việc làm trong khu vực. Mặc dù vậy, hãng Boeing công bố rằng việc sản xuất máy bay thương mại chở khách vẫn sẽ được duy trì sự tăng trưởng tập trung chuyên sâu ở vùng Vịnh Puget, và vào năm 2003 đã thông tin rằng thế hệ tiếp theo của máy bay phản lực, 787, sẽ được lắp ráp ở Everett. Hãng Boeing khởi đầu thuê lại nhân công, công ty này đã tuyển thêm 3,200 nhân công địa phương. [ 56 ]Các hoạt công nghệ cao đang lan rộng ra vai trò của chúng trong nền kinh tế tài chính Seattle. Khu vực này đã tăng trưởng thành trung tâm số 1 về những ngành ứng dụng, viễn thông, công nghệ sinh học và công nghệ tiên tiến y học. Microsoft, công ty có trụ sở nằm ở khu vực Tây ngoại ô Redmond, đã tăng trưởng vững mạnh và trở thành nhà phân phối ứng dụng lớn nhất trên quốc tế và lúc bấy giờ đã thuê giao động 28,000 nhân công địa phương, đây cũng là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ hai trong khu vực. Công nghệ sinh học – chuyên ngành mũi nhọn của trường Đại học Washington, học viện chuyên nghành nghiên cứu và điều tra Ung Thư Fred Hutchinson, tổng hợp lớn về phương tiện đi lại y tế ở Seattle – là một ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh gọn .Tiểu bang Washington còn trồng trái cây để xuất khẩu, và rượu nho của tiểu bang này, được sản xuất tại Thung Lũng Columbia ở phía tây Seattle, đang mở màn lôi cuốn được những người mua trung thành với chủ trên quốc tế, như lời nhà phân phối rượu nho Mike Mrachek, gia chủ hãng rượu St. Laurent Wines. Ông Mrachek nói : ” Táo và anh đào của Tiểu bang Washington đã nổi tiếng trên quốc tế rồi, và công nghiệp làm rượu nho cũng thế. Chúng tôi trồng được những loại nho có chất lượng “. [ 57 ]

Tỉ lệ Nhân khẩu và Xã hội
(ước tính năm 2006)[58]
Phân loại: Seattle Washington  Hoa Kỳ
Đàn ông (%) 50,4 50,2 51
Phụ nữ (%) 49,6 49,8 49
Tuổi trung niên 15,3 23,9 13,3
Vị thành niên (%) 37,7 36,7 36,4
18-64 tuổi (%) 73,6 64,6 74,6
Trên 65 + (%) 11,1 11,5 12,1
Thu nhập bình quân đầu người ($) 38 648 27 346 25 035
Tỷ lệ đói nghèo[59] (%) 12,5 11,8 13,3

Dân số thành phố này thời gian ngày 18 tháng 9 năm 2009 khoảng chừng 602,000 người, là thành phố đông dân thứ 25 ở Hoa Kỳ còn dân số vùng đô thị là 3,407,848 người. [ 60 ] Mật độ dân số của thành phố là 7.1 36 / mi². Hầu hết sự ngày càng tăng dân số của thành phố diễn ra ở những khu ngoại ô. Giống như những khu đô thị lớn của Mỹ, trước năm 1990 TT thành phố có số lượng dân số không thay đổi hoặc giảm sút. Cuối những năm 1980, Seattle đảo ngược sự suy giảm suốt 30 năm, và dân số đã nhanh gọn hồi sinh từ 493,846 năm 1980 lên 572,600 năm 2004. [ 61 ]Theo cuộc Khảo sát hội đồng người Mỹ vào năm 2006 – 2008, thành phần chủng tộc ở Seatte được thống kê như sau :
Nguồn : [ 62 ]Cũng theo cuộc Khảo sát hội đồng người Mỹ 2006 – 2008, tiếng Anh là ngôn từ phổ cập nhất khi nói ở nhà, khoảng chừng 78,9 % trẻ trên năm tuổi chỉ nói tiếng Anh ở nhà. Tiếng Tây Ban Nha có 4.5 % dân số ở Seattle sử dụng ; 3.9 % dân số nói những tiếng khác thuộc Hệ ngôn từ Ấn-Âu ; những người nói ngôn từ châu Á ở nhà chiếm 10.2 % dân số. 2.5 % còn lại là những người nói những ngôn từ khác. [ 63 ]Vào năm 1999, thu nhập trung bình của một hộ mái ấm gia đình ở thành phố là USD 45,736, còn thu nhập trung bình cho một mái ấm gia đình là USD 62,195. Nam giới có thu nhập trung bình là USD 40,929 so với 35,134 USD của phái nữ. Thu nhập trung bình đầu người của thành phố là USD 30,306. [ 64 ] 11.8 % dân số và 6.9 % số mái ấm gia đình ở Washington thuộc dạng đói nghèo. Trong số những người sống trong cảnh đói nghèo, có 13,8 Tỷ Lệ là ở độ tuổi dưới 18 và 10,2 Tỷ Lệ là 65 tuổi trở lên. [ 64 ]Người ta ước tính rằng Quận King có 8.000 người vô gia cư và nhất là ở thành phố Seattle. Trong tháng 9 năm 2005, những huyện đã triển khai một kế hoạch mười năm để giúp người vô gia cư bằng cách thiết kế xây dựng nhà cửa cho họ. [ 65 ] .

Thay đổi dân số[66][67]
Năm 1900 1910 1920 1930 1940 1950 1960 1970 1980 1990 2000 2005 2010
Dân số 80,671 237,194 315,312 365,583 368,302 467,591 557,087 530,831 493,846 516,259 563,374 573,911 630,320

Cơ sở hạ tầng[sửa|sửa mã nguồn]

Toàn cảnh trường bay Sea-Tac nhìn từ trên caoSeattle là một điểm nút giao thông vận tải quan trọng ở ven biển Thái Bình Dương, một hải cảng lớn của Hoa Kỳ trong thế kỉ 20. Thành phố tạo lạc trên một vùng cảng biển nước sâu rất đẹp nằm ở ngay TT lưu vực Vịnh Puget. Vị trí này tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho Seattle năng lực cạnh tranh đối đầu thương mại trong khu vực cũng như quốc tế. Seattle được ví như một cửa ngõ lớn cho cả khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và Alaska. Seattle đã kiến thiết xây dựng sự thịnh vượng của nó bằng cách tận dụng vị trí kế hoạch vốn có .Sân bay quốc tế Seattle-Tacoma nằm ở phía Nam thành phố có những chuyến bay trực tiếp tới nhiều trường bay khác trong chủ quyền lãnh thổ nước Mỹ cũng như với Canada và những thành phố bên kia đại dương. Thương mại với khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã tăng trưởng đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong suốt 20 năm qua, và xu thế này kỳ vọng sẽ liên tục được duy trì hiệu suất cao trong tương lai. Nằm trong thị xã gần Sea-Tac và quản trị bởi Cảng Seattle, nó cung ứng những điểm đến như Paris, Luân Đôn, Amsterdam và Tokyo và Đài Bắc. Alaska Airlines có trụ sở chính tại trường bay. Năm 2006, trường bay ship hàng khoảng chừng 30 triệu hành khách. [ 68 ] Một trường bay nữa tên là Boeing Field ( còn có tên là Sân bay quốc tế King County ) được đặt tại Seattle. Nó hầu hết được sử dụng cho chuyên chở sản phẩm & hàng hóa, thử nghiệm những chiếc máy bay Boeing được thiết kế xây dựng gần đó .Mặc dù thành phố Seattle có những phương tiện đi lại vận tải đường bộ như đường tàu và xe buýt nhưng xe xe hơi mới là phương tiện đi lại hầu hết. Các tàu điện tiên phong được Open tiên phong vào năm 1889 đã góp thêm phần vào việc tạo ra một TT tương đối không thay đổi. Sự Open của xe xe hơi đã lên tiếng hồi chuông báo tử cho mạng lưới hệ thống đường tàu ở Seattle. Vào năm 1929, mạng lưới hệ thống đường tàu Seattle-Tacoma phải đóng cửa, còn tuyến đường sắt Seattle-Everett đóng cửa vào năm 1939, thay vào đó là xe xe hơi giá rẻ chạy trên đường cao tốc. Và đến năm 1941, sự Open của xe điện chở hành khách đã mang lại sự kết thúc cho xe điện. Điều này đã làm trải rộng mạng lưới xe buýt tư nhân ( sau này là công cộng ) như thể giao thông vận tải công cộng duy nhất trong thành phố và cả khu vực. [ 69 ]Seattle tọa lạc tại điểm giao nhau của hai tuyến đường cao tốc nối những tiểu bang : tuyến đường số 5 và 90. Tuyến đường số 5 có lộ trình Bắc – Nam, nối hai thành phố lớn của bờ biển Thái Bình Dương. Tuyến đường số 90 nối tiếp Seattle với khu vực phía Tây ; tuyến đường này lan rộng ra tới Spokane, Minneapolis – St. Paul, Chicago và sau cuối là Boston. Rất nhiều tuyến phà đi dọc theo Vịnh Puget và liên kết Seattle với những thành phố khác ở bờ phía đông của khu Sound với Bán đảo Kitsap và Bán đảo Olympic về phía Tây .

Đại học Washington liên tục được xếp hạng một trong những dịch vụ y tế tốt nhất trong một nghiên cứu về y dược gần đây. Các địa phương lân cận của Seattle đã được trang bị hệ thống cấp cứu và y tế hiện đại ngay từ năm 1970.[70] Ba bệnh viện lớn nhất Seattle là Harborview Medical Center, bênh viện công lớn nhất hạt, Virginia Mason Medical Center và Swedish Medical Center’s đều nằm tại đồi First Hill. Chính vì thế ngọn đồi này còn được gọi là “Pill Hill” (tạm dịch: đồi thuốc).[71]

Seattle thường được xem như nơi sinh ra nhạc grunge với những ca sĩ và ban nhạc nổi tiếng như Nirvana, Pearl Jam, Soundgarden, Alice in Chains, Green River, Mudhoney và Screaming Trees. Những nhóm nhạc này đã tác động ảnh hưởng rất lớn với người dân Seattle vào những năm 1990. [ 72 ] Ngoài ra, thành phố cũng có những ngôi sao 5 cánh nhạc jazz như Bill Frisell và Wayne Horvitz, rapper Sir Mix-a-Lot, nhạc công saxophone Kenny G, ban nhạc heavy metal Nevermore, ban nhạc industrial metal KMFDM, và những nhóm nhạc pop / rock như Aiden, Goodness và The Presidents of the United States of America. Một số nhạc sĩ nổi tiếng như Jimi Hendrix, Duff McKagan, Nikki Sixx, và Quincy Jones đều sinh sống ở Seattle. Seattle là một TT biều diễn nghệ thuật và thẩm mỹ trong nhiều năm. Dàn nhạc giao hưởng Seattle là một trong những dàn nhạc lớn nhất quốc tế, màn biểu diễn hơn 125 bản nhạc giao hưởng và được đề cử 12 giải Grammy. [ 73 ]

Thơ cũng là một phần nghệ thuật ở Seattle. Nó được phát triển song song với thể loại nhạc indie rock trong thập niên 1980 và thập niên 1990. Các nhà thơ tài năng như Buddy Wakefield (hai lần vô địch thế giới cuộc thi thơ ca), Anis Mojgani (hai lần vô địch quốc gia về thơ ca)[74] và Danny Sherrardune (một lần vô địch quốc gia về thơ ca)[75] đều là người Seattle. Seattle đã tổ chức cuộc thi thơ quốc gia vào năm 2001 và cứ sáu tháng một lần, thành phố đều tổ chức lễ hội thơ Seattle.[76]

Seattle còn nổi tiếng về tiêu thụ nhiều cafe. Công ty cafe được xây dựng ở đây có Starbucks và Tully’s. Seattle là nơi nhóm họp của WTO năm 1999 – cuộc họp bị nhiều nhà hoạt động giải trí chống toàn thế giới hóa tổ chức triển khai biểu tình phản đối. Các nhà nghiên cứu của Đại học Trung tâm bang Connecticut xếp Seattle vào hạng thành phố có tri thức nhất châu Mỹ năm 2005. Một thống kê cho thấy tỷ suất người tốt nghiệp ĐH cao đẳng của thành phố này cao nhất trong những thành phố lớn của Hoa Kỳ. Xếp theo đầu người, Seattle xếp thứ 36/522 khu vực học tập ở tiểu bang Washington .

Vào năm 2010, Seattle có một tờ báo thường nhật chính là The Seattle Times. Tờ Seattle Post-Intelligence, được xuất bản từ năm 1863 cho đến ngày 17 tháng 3 năm 2009 thì dừng phát hành, chuyển sang làm báo mạng và cùng với The Seattle Times, Seattle Post-Intelligence trở thành hai tờ báo mạng lớn nhất Seattle. Đại học Washington thì phát hành tờ The Daily, một tờ báo của học sinh và chỉ phát hành khi bắt đầu một năm học mới. Các tuần báo nổi bật nhất là Seattle WeeklyThe Stranger. Tờ báo Real Change là một tờ báo thường nhật chủ yếu dành cho người vô gia cư và những người ăn xin. Ngoài ra còn có một số tờ báo dân tộc địa phương, bao gồm Northwest Asian WeeklyNorth Seattle Journal.

Seattle cũng phân phối cho người dân những đài truyền hình và vô tuyến riêng và phủ sóng trên toàn nước Mỹ, với năm trạm phát những tiếng khác tiếng Anh và hai trạm phát tiếng Tây Ban Nha. [ 77 ] Người dùng truyền hình cáp ở Seattle hoàn toàn có thể nhận được đài CBUT 2 ( CBC ) từ Vancouver, British Columbia. [ 77 ]Seattle có hai tạp chí trực tuyến là Worldchaging và Grist. org là hai trong số những ” Green Website ” vào năm 2007 theo tạp chí Time. [ 78 ] Qwest Field, sân nhà của Seattle Sounders FC và Seattle Seahawk .

Câu lạc bộ Thể thao Giải Địa điểm thi đấu Thời gian thành lập. Vô địch
Seattle Sounders FC Bóng đá Major League Soccer Qwest Field 2007 0
Seattle Seahawks Bóng bầu dục National Football League Qwest Field 1976 1
Seattle Mariners Bóng chày Major League Football Safeco Field 1977 0
Seattle Thunderbirds Khúc côn cầu Western Hockey League ShoWare Center 1977 0
Seattle Storm Bóng rổ Women’s National Basketball Association KeyArena 2000 1
Seattle Mist Bóng bầu dục Lingerie Football League ShoWare Center N/A N/AQ
Seattle Grizzlies Bóng bầu dục kiểu Úc United States Australian Football League Mosier Park 1998 0
Seattle Mist Bóng đá Lingerie Football League ShoWare Center 2009 N/AQ
Seattle SuperSonics Bóng rổ NBA KeyArena 1967 1
Seattle Totems Khúc côn cầu Northern Pacific Hockey League Olympic View Ice Arena 2005 4

Thư viện TT SeattleSeattle có một mạng lưới những thư viện công cộng khá xum xê và Giao hàng theo từng nhu yếu của mỗi người. Thư viện Trung tâm Seattle, phong cách thiết kế bởi Rem Koolhaas, được Open vào năm 2004 .

Những người nổi tiếng ở Seattle[sửa|sửa mã nguồn]

  • Kurt Cobain (20 tháng 2 năm 1967 – 5 tháng 4 năm 1994): Ca sĩ, nhạc sĩ và là nhóm trưởng ban nhạc Nivarna.
  • Chris Cornell (20 tháng 7 năm 1964): Ca sĩ, nhạc sĩ.
  • Frances Farmer (19 tháng 3 năm 1913 – 1 tháng 8 năm 1970): Diễn viên.
  • Bill Gates (28 tháng 5 năm 1955): Doanh nhân, nhà từ thiện, đồng sáng lập Microsoft.
  • Jimi Hendrix (27 tháng 11 năm 1942 – 18 tháng 9 năm 1970): Ca sĩ, nhạc sĩ nhạc rock.
  • Eddie Vedder (23 tháng 12 năm 1964): Ca sĩ, nhạc sĩ nhạc rock, thành viên nhóm Pearl Jam
  • Lý Tiểu Long (21 tháng 11 năm 1940 – 20 tháng 7 năm 1973): Diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất, chỉ đạo võ thuật được chôn cất ở nghĩa trang Lake View, Seattle.
  • Lý Quốc Hào (1 tháng 2 năm 1965 – 31 tháng 3 năm 1993): Diễn viên được chôn cất ở nghĩa trang Lake View, Seattle.

Chợ Pike PlaceSeattle có nhiều điểm lôi cuốn sự chăm sóc của hành khách như Ballard Locks ( cống dẫn nước vào Vịnh Puget ) ; Experience Music Project ( kho lưu trữ bảo tàng âm nhạc ), Museum of Flight ( kho lưu trữ bảo tàng hàng không ) … Khách đến thăm Seattle hoàn toàn có thể đi du thuyền trong Vịnh Puget và lên tháp Space Needle. Chợ ngoài trời Pike Place cũng là một điểm đến vô cùng mê hoặc. Chợ cực kỳ thật sạch, tân tiến và luôn chật cứng vào dịp cuối tuần .Nằm trên dãy núi Everett, cách Seattle 40 phút chạy xe là nhà máy sản xuất sản xuất máy bay Boeing. Đa số hành khách đặt chân đến Seattle đều thăm quan nơi này, lê dài từ phía Bắc xuống phía Nam của thành phố. Toà nhà của nhà máy sản xuất sản xuất Boeing này có kiến trúc đồ sộ vào bậc nhất quốc tế, đủ to lớn để chứa cả khu vui chơi giải trí công viên Disneyland. Quy trình sản xuất một chiếc máy bay ở đây rất đặc biệt quan trọng, đến nỗi tour du lịch dành cho hành khách thăm quan nhà máy sản xuất này đã trở thành một trong những tour du lịch mê hoặc nhất ở vùng đất Tây Bắc nước Mỹ này. [ 79 ]Một số những hội chợ và những tiệc tùng điển hình nổi bật hàng năm ở Seattle như Liên hoan phim Quốc tế Seattle, [ 80 ] nhiều sự kiện Seafair diễn ra trong suốt Tháng 7 và 8, Northwest Folklife qua ngày Lễ Chiến sĩ trận vong, những chương trình âm nhạc, nghệ thuật và thẩm mỹ và đi dạo vui chơi qua ngày Labor Day, … Tất cả lôi cuốn khoảng chừng 100.000 người tham gia, ngang bằng với sự kiện Seattle Hempfest ( là sự kiện hàng năm đống ý việc bất hợp pháp hóa so với ma túy, cần sa và thuốc lá ) và Ngày Độc lập Hoa Kỳ. [ 81 ] [ 82 ] [ 83 ]Ở đây cũng có một số ít sự kiện thường niên khác, như Seattle Antiquarian Book Fair và Book Arts Show ( Hội chợ sách khảo cổ học và sách thẩm mỹ và nghệ thuật ) ; [ 84 ] và hội nghị anime, Sakura-Con ; [ 85 ] Penny Arcade Expo, hội nghị game show điện tử ; [ 86 ] và một số ít liên hoan phim như Liên hoan phim Maelstrom International Fantastic và Liên hoan phim Đồng tính luyến ái ( Seattle Gay and Lesbian Film Festival ) [ 87 ] .

Địa điểm nổi tiếng[sửa|sửa mã nguồn]

Địa điểm Hình ảnh
Space Needle Space Needle nhìn từ công viên Kerry
Safeco Field SVĐ Safeco nhìn từ tầng trên cùng
Washington Park Arboretum Công viên Washington
Columbia Center Columbia Center
Hiram M. Chittenden Locks Ballard Locks
Địa điểm Hình ảnh
Bảo tàng hàng không Buồng lái Boeing 737
Chợ Pike Place Cổng chợ lúc chiều tối
Công viên Kerry Trung tâm thành phố nhìn từ công viên Kerry
Bến phà Washington State Một con phà trong Vịnh Puget
Tháp Smith Tháp Smith ở Seattle

Nguồn : [ 88 ]

Seattle là một thành phố có hiến pháp riêng, với hình thức là Thị trưởng-Hội đồng, khác với đa số các thị trấn lân cận với hình thức Hội đồng-Quản lý. Từ năm 1911, chín thành viên hội đồng thành viên thành phố đều được bầu chọn với quy mô lớn, chứ không phải tách riêng ra bởi các phân khu địa lý.[89] Các cơ quan được quyền bầu khác là luật sư, thẩm phán và những người có ủy quyền. Tất cả họ đều không theo một đảng nào.[90] Seattle là một thành phố theo chủ nghĩa tự do và có xu hướng bầu chọn các chính trị gia phe cánh tả. Với đặc điểm như vậy, Seattle khá tương đồng với các thành phố trong nước cũng theo xu hướng cánh tả như Madison, Wisconsin, Berkeley, California, và Cambridge, Boston tại Massachussets.

Biệt danh, hoa, nhạc và khẩu hiệu chính thức[sửa|sửa mã nguồn]

Năm 1981, chính quyền Seattle mở cuộc thi sáng tạo biệt danh mới thay cho biệt danh hiện hành vào thời điểm đó là “the Queen City”. “Queen City” được đặt bởi các nhà địa ốc từ năm 1869,[91] nhưng tên này cũng là biệt danh của các thành phố Cincinnati;[92] Denver;[93] Regina, Saskatchewan;[94] Buffalo;[95] Bangor, Maine;[96] Helena, Montana;[97] Burlington, Vermont,[98] Charlotte, North Carolina,[99] và một vài thành phố khác. Sau một năm bình chọn, năm 1982, Seattle có biệt danh mới là “the Emerald City”. Tên này được đặt bởi Sarah Sterling-Franklin đến từ California mang ý nghĩa thành phố Seattle có một màu xanh ngọc bích nhờ vào những rừng cây xum xuê rậm rạp, nhờ vào những cơn mưa thường xuyên mang lại sự tươi tốt cho cây trái.[100] Seattle còn có một biệt danh không chính thức khác là “the Jet City”, ám chỉ công ty Boeing đặt trụ sở tại đây.[100] Ngoài ra thành phố còn có tên khác nữa là “Portal to the Pacific”, cụm từ ám chỉ những đường hầm hướng về phía tây bắt nguồn từ cây cầu trên hồ Washington ở Quốc lộ 90.

Bông hoa chính thức của thành phố là hoa thược dược từ năm 1913. ” Seattle the Peerless City ” là bài hát chính thức của Seattle từ năm 1909. Và vào năm 1942, khẩu hiệu của thành phố là ” The City of Flowers ” ; 48 năm sau, tức năm 1990, đổi lại thành ” The City of Goodwill “, hưởng ứng sự kiện Goodwell Games được tổ chức triển khai tại Seattle tại thời gian đó. [ 101 ] Vào ngày 20 tháng 10 năm 2006, tháp Space Needle được trang hoàng bởi khẩu hiệu mới ” Metronatural “. Khẩu hiệu này là tác dụng của 16 tháng ròng rã với 200.000 đô la được chi bởi Cục Sự kiện và Du khách Seattle. [ 102 ] Tại đây, Diệc xanh lớn là loài chim chính thức do Hội đồng Thành phố bầu chọn vào năm 2003. [ 103 ]

Thành phố kết nghĩa[sửa|sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

  • Trang chính của Seattle. (tiếng Anh)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.