Alberta – Wikipedia tiếng Việt

S House homestay Nha Trang 

Alberta ( ) là một trong 13 tỉnh bang và lãnh thổ của Canada.[2] Với dân số ước tính là 4.067.175 người theo cuộc điều tra dân số năm 2016,[1] đây là tỉnh bang đông dân thứ tư của nước này, và là tỉnh bang đông dân nhất trong ba tỉnh bang thuộc vùng đồng cỏ (Canadian Prairies). Diện tích của Alberta khoảng 660.000 kilômét vuông (250.000 dặm vuông Anh).[3] Alberta giáp với tỉnh bang British Columbia về phía Tây và Saskatchewan về phía Đông, Các Lãnh thổ Tây Bắc về phía Bắc, và tiểu bang Montana của Hoa Kỳ về phía Nam. Alberta là một trong ba tỉnh bang và lãnh thổ của Canada có biên giới với chỉ một tiểu bang Hoa Kỳ.[4] Đây cũng là một trong hai tỉnh bang không tiếp giáp biển của Canada.[2] Thủ phủ của Alberta là Edmonton, nằm gần trung tâm địa lý của tỉnh bang; nó là trung tâm cung cấp và dịch vụ chính cho các công nghiệp tài nguyên của Canada như dầu mỏ và cát dầu.[5] Khoảng 290 km (180 mi) về phía Nam của Edmonton là Calgary, thành phố đông dân nhất.[6] Calgary và Edmonton là hai trung tâm cho hai khu đô thị của tỉnh bang, mỗi khu với hơn một triệu dân,[7] trong khi tỉnh bang có 16 khu vực điều tra dân số.[8]

Người thổ dân đã sống ở khu vực mà ngày nay là Alberta hàng nghìn năm trước khi người châu Âu đến định cư.[9] Alberta và Saskatchewan nguyên là hai khu vực của Các Lãnh thổ Tây Bắc, nhưng đã trở thành tỉnh bang vào ngày 1 tháng 9 năm 1905.[10] Các khu vực kinh tế chính của Alberta gồm công nghiệp năng lượng và công nghệ sạch, nông nghiệp, và hóa học dầu mỏ.[11] Công nghiệp dầu mỏ trở thành cột trụ của kinh tế Alberta từ năm 1947, khi người ta khám phá ra dầu ở Giếng dầu Leduc No. 1.[12] Thủ hiến đương nhiệm của Alberta là Jason Kenney của Đảng Bảo thủ Thống nhất (United Conservative Party), đang chiếm giữ đa số ghế trong cơ quan lập pháp của tỉnh bang.[13]

Các khu vực du lịch trong tỉnh bang gồm có : Banff, Canmore, Drumheller, Jasper, Sylvan Lake và Hồ Louise. Alberta chiếm hữu 6 di sản quốc tế UNESCO : Vườn vương quốc Núi Rocky của Canada, Công viên Khủng long tỉnh Alberta, Vực bẫy trâu Head-Smashed-In, Công viên độc lập quốc tế Waterton-Glacier, Vườn vương quốc Wood Buffalo, và Writing-on-Stone / Áísínai’pi. [ 14 ] Tỉnh bang đa phần có khí hậu lục địa khí ẩm, có nhiều đổi khác lớn trong năm ; nhưng nhiệt độ trung bình theo mùa ít biến hóa hơn những khu vực xa hơn ở phía Đông, vì mùa đông được gió chinook sưởi ấm. [ 15 ]

Alberta được đặt tên theo Công chúa Louise Caroline Alberta (1848–1939),[16] con gái thứ tư của nữ hoàng Victoria. Công chúa Louise là phu nhân của John Campbell, Hầu tước Lorne, Toàn quyền Canada (1878–83). Hồ Louise và Đỉnh Alberta cũng được đặt tên theo bà.[17][18] Tên gọi “Alberta” cũng là phiên bản nữ hóa của tên Latin Albert (so với phiên bản giống đực Albertus trong tiếng Latinh Trung cổ) và những từ cùng gốc trong các ngôn ngữ German, cũng đều có nguồn gốc từ tiếng German sơ khai *Aþalaberhtaz (chữ ghép từ “quý tộc” + “sáng/nổi tiếng”).[19][20]

Các chiến sỹ Blackfoot tại Macleod vào 1907

Những người thổ dân tiền da đỏ đã đến Alberta ít nhất 10.000 năm trước, vào cuối thời kỳ băng hà gần đây nhất. Họ được cho là đã di cư từ Siberia đến Alaska qua một cầu đất liền xuyên qua Eo biển Bering và sau đó có thể xuống phía Đông dãy núi Rocky để sinh sống tại châu Mỹ. Những người khác có thể đã di cư dọc theo bờ biển British Columbia rồi dần dần vào đất liền.[21] Sau thời gian họ đã phân hóa thành nhiều bộ lạc khác nhau, trong đó có các bộ lạc người da đỏ ở đồng bằng (Plain Indians) ở miền nam Alberta như Liên minh Blackfoot và người Cree Đồng bằng (sinh sống bằng cách săn bắt bò rừng), và những bộ lạc ở phía Bắc như người Cree Rừng và Chipewyan (sinh sống bằng săn bắt, lập bẫy, và câu cá).[22]

Sau khi người Anh đến Canada, khoảng chừng 50% tỉnh bang Alberta, phía Nam tiêu vực sông Athabasca, trở thành Lãnh thổ Rupert gồm có toàn bộ đất trong lưu vực những sông ngòi chảy vào vịnh Hudson. Khu vực này được vua Charles II của Anh cấp cho Công ty Vịnh Hudson ( HBC ) năm 1670, và những công ty cạnh tranh đối đầu kinh doanh lông thú không được phép hoạt động giải trí tại đó .Sông Athabasca và những con sông phía Bắc không thuộc chủ quyền lãnh thổ của HBC vì chúng chảy vào Bắc Băng Dương thay vì vịnh Hudson, và chúng là nơi sống lý tưởng của 1 số ít loài có lông. Nhà thám hiểm châu Âu tiên phong trong khu vực Athabasca là Peter Pond, người đã nghe đến đoạn khuân vác Methye, nơi hoàn toàn có thể vận động và di chuyển từ những sông phía Nam đến những sông phía Bắc Lãnh thổ Rupert. Những nhà buôn bán lông thú đã xây dựng Công ty Tây Bắc ( NWC ) tại Montreal năm 1779 để cạnh tranh đối đầu với HBC. NWC chiếm giữ khu vực phía Bắc chủ quyền lãnh thổ Alberta. Năm 1778, Peter Pond thiết kế xây dựng Pháo đài Athabasca trên Lac la Biche. Roderick Mackenzie kiến thiết xây dựng Pháo đài Chipewyan trên hồ Athabasca 10 năm sau đó vào 1788. Người bạn bè họ của ông là Sir Alexander Mackenzie đã đi dọc theo sông Bắc Saskatchewan để đến điểm cực Bắc gần Edmonton, rồi đi bộ về hướng Bắc, đến sông Athabasca, rồi ông theo sông đến hồ Athabasca. Tại đây ông mày mò ra sông chảy mạnh mà ngày này mang tên ông – sông Mackenzie mà ông đã đi theo đến nơi nó chảy vào Bắc Băng Dương. Trở về lại hồ Athabasca, ông đi ngược dòng sông Peace và ở đầu cuối đi đến Thái Bình Dương, như vậy ông trở thành người châu Âu tiên phong đi xuyên qua lục địa Bắc Mỹ ở phía Nam Mexico. [ 23 ]Khu vực cực nam của Alberta từng là một phần chủ quyền lãnh thổ Pháp ( rồi Tây Ban Nha ) Louisiana, được bán cho Hoa Kỳ năm 1803 ; năm 1818, phần đất của Louisiana phía Bắc vĩ tuyến 49 Bắc được nhượng lại cho Đế quốc Anh. [ 24 ] Mậu dịch lông thú được tăng trưởng ở phía Bắc, nhưng những cuộc xung đột đẫm máu diễn ra giữa hai công ty đối thủ cạnh tranh HBC và NWC, và nào năm 1821 chính quyền Anh đã ra lệnh cả hai phải sáp nhập để chấm hết những cuộc xung đột. [ 25 ] Công ty Vịnh Hudson hợp nhất đã thống lĩnh mậu dịch tại Alberta cho đến năm 1870, khi chính phủ nước nhà Canada mới xây dựng mua đứt Lãnh thổ Rupert. Miền Bắc Alberta vẫn nằm trong Lãnh thổ Miền Tây Bắc cho đến năm 1870, khi nó và Lãnh thổ Rupert trở thành Các Lãnh thổ Tây Bắc của Canada .

Quận Alberta được thành lập trong bộ phận Các Lãnh thổ Tây Bắc năm 1882. Với số người định cư tăng trưởng, các dân biểu địa phương được cử vào cơ quan lập pháp lãnh thổ. Sau một thời gian dài vận động đòi tự trị, năm 1905 Quận Alberta được mở rộng và trở thành một tỉnh bang, và Alexander Cameron Rutherford được bầu làm thủ hiến đầu tiên. Chưa đến 10 năm sau, tỉnh bang mới đã phải đối diện với những thử thách đặc biệt do Thế chiến thứ nhất gây ra khi số người xung phong tham chiến đã để lại ít công nhân để duy trì dịch vụ và sản xuất. Hơn 50% bác sĩ Alberta đã tình nguyện tham chiến ở nước ngoài.[26]

Thế kỷ 21[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 6 năm 2013, trong vụ Lũ lụt Alberta 2013, Alberta đã chịu nhiều trận mưa lớn, gây ra lũ lụt khắp miền Nam tỉnh bang dọc theo những sông và nhánh Bow, Elbow, Highwood và Oldman. 12 đô thị ở miền Nam Albert đã công bố thực trạng khẩn cấp địa phương vào ngày 21 tháng 6 khi mực nước dâng cao và người dân ở nhiều địa phương nhận lệnh sơ tán. [ 27 ]Năm năm nay, một vụ cháy rừng đã dẫn đến cuộc di tán vì cháy rừng lớn nhất lịch sử vẻ vang Alberta, trong đó hơn 80.000 người đã buộc phải di tán. [ 28 ] [ 29 ] Mật độ dân số Alberta

Lịch sử dân số
Năm Số dân ±%
1901 73.022 —    
1911 374.295 +412.6%
1921 588.454 +57.2%
1931 731.605 +24.3%
1941 796.169 +8.8%
1951 939.501 +18.0%
1956 1.123.116 +19.5%
1961 1.331.944 +18.6%
1966 1.463.203 +9.9%
1971 1.627.875 +11.3%
1976 1.838.035 +12.9%
1981 2.237.724 +21.7%
1986 2.365.830 +5.7%
1991 2.545.553 +7.6%
1996 2.696.826 +5.9%
2001 2.974.807 +10.3%
2006 3.290.350 +10.6%
2011 3.645.257 +10.8%
2016 4.067.175 +11.6%
[1][30][31]

Cuộc tìm hiểu dân số năm năm nay báo cáo giải trình Alberta có dân số 4.067.175 người ở tại 1.527.678 trong 1.654.129 tổng số đơn vị chức năng nhà cửa, tăng 11,6 % so với dân số năm 2011 là 3.645.257. Với diện tích quy hoạnh đất là 640.330,46 km2 ( 247.232,97 dặm vuông Anh ), tỷ lệ dân số ở đây là 6,4 / km2 ( 16,5 / sq mi ) trong năm năm nay. [ 1 ] Statistics Canada ước tính tỉnh bang có dân số là 4.428.247 người trong quý 2 năm 2020. [ 32 ]Từ năm 2000, dân số của Alberta đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng tương đối cao, hầu hết là do nền kinh tế tài chính đang nảy nở. Giữa 2003 và 2004, tỉnh bang có tỷ suất sinh đẻ cao ( bằng những tỉnh bang lớn hơn như British Columbia ), tỷ suất nhập cư tương đối cao, và tỷ suất nhập cư liên tỉnh cao so với những tỉnh bang khác. [ 33 ] Năm năm nay, Alberta liên tục là tỉnh bang có dân số trẻ nhất, với tuổi trung bình là 36,7 năm, so với tuổi trung bình toàn nước là 41,2 năm. Cũng trong năm năm nay, Alberta có tỷ suất người cao tuổi thấp nhất ( 12,3 % ) trong những tỉnh bang và một trong những tỷ suất trẻ nhỏ cao nhất ( 19,2 % ), góp thêm phần vào dân số trẻ tuổi và tăng trưởng của Alberta. [ 34 ]Khoảng 81 % dân số sống trong những khu vực đô thị trong khi 19 % sống ở khu vực nông thôn. Đường Hành lang Calgary – Edmonton là khu vực đô thị hóa nhất trong tỉnh bang và là một trong những khu vực đông dân nhất Canada. [ 35 ] Nhiều thành thị Alberta cũng đã trải qua tỷ suất tăng trưởng rất cao trong những năm gần đây. Dân số Alberta đã tăng trưởng từ 73.022 người trong năm 1901 [ 36 ] đến 4.067.175 người năm năm nay .

Tài nguyên dầu mỏ tại Alberta

Nền kinh tế tài chính Alberta là một trong những nền kinh tế tài chính mạnh nhất quốc tế, được tương hỗ bởi một nền công nghiệp dầu mỏ đang tăng trưởng và ở một mức độ ít hơn là nông nghiệp và công nghệ tiên tiến. Năm 2013, GDP trung bình theo đầu người cao hơn so với Hoa Kỳ, Na Uy, hoặc Thụy Sĩ, [ 37 ] và cao nhất trong toàn bộ những tỉnh bang nào khác tại Canada ở mức 84,390 CA USD. Con số này là 56 % cao hơn mức trung bình toàn nước là 53,870 CA USD và hơn gấp hai lần 1 số ít tỉnh bang giáp bờ Đại Tây Dương. [ 38 ] [ 39 ] Năm 2006, sự độc lạ với mức trung bình đầu người toàn nước là lớn nhất cho bất kỳ tỉnh bang nào trong lịch sử dân tộc Canada. [ 40 ] Theo tìm hiểu dân số năm 2006, [ 41 ] thu nhập mái ấm gia đình trung vị sau khi trừ thuế ở Alberta là CAD USD 70.986 ( so với CAD USD 60.270 toàn nước ). Năm năm trước, Alberta có nền kinh tế tài chính lớn thứ nhì Canada, chỉ sau Ontario, với GDP cao hơn 376 tỷ CA USD. [ 42 ] GDP của tỉnh bang tính theo Chi tiêu cơ bản đã tăng 4,6 % năm 2017 lên đến CA USD 327.4 tỷ, là sự tăng trưởng cao nhất được ghi nhận tại Canada, và đã kết thúc hai năm liên tục giảm sút. [ 43 ]

Nguồn tìm hiểu thêm[sửa|sửa mã nguồn]


Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.